5 di tích tiêu biểu thờ phụng các danh tướng triều đại Đinh Tiên Hoàng ở Hải Dương

Năm 944, sau khi vua Ngô Quyền mất, nội bộ nhà Ngô lục đục,
suy yếu, không đảm đương việc điều hành đất nước, 12 vị hào trưởng của 12 vùng
đã nổi lên xưng hùng, xưng bá, tạo nên loạn 12 sứ quân. Bất bình trước cảnh cát
cứ, vua Đinh Bộ Lĩnh với tài trí hơn người được tôn làm Tù trưởng sách Đào Áo
(nay thuộc các xã Gia Hưng, Gia Phú, Liên Sơn, huyện Gia Viễn, Ninh Bình), từng
bước tập hợp, củng cố lực lượng, dấy binh phất cờ khởi nghĩa dẹp loạn, gây dựng
nhà Đinh, lập nên Nhà nước Đại Cồ Việt – Nhà nước phong kiến trung ương tập quyền
đầu tiên trong lịch sử dân tộc.

Trong cuộc khởi nghĩa của vua Đinh Bộ Lĩnh, có nhiều võ tướng
người Hải Dương tham gia. Sau khi mất, các võ tướng được nhân dân xây dựng
đình, miếu thờ tự, triều đình phong kiến ban tặng sắc phong ghi nhận công lao.
Điều này thể hiện qua hệ thống di tích lịch sử, văn hóa và ghi chép trong các
thư tịch cổ (thần tích, bia ký, văn tế…). Dưới đây là 5 di tích tiêu biểu:

Đền Từ Hạ

Đền Từ Hạ ở xã Thanh Quang (Thanh Hà) thờ 3 vị thành hoàng
có mối liên hệ gắn bó ruột thịt trong một gia đình là danh tướng Đặng Chân, nữ
tướng Trịnh Thị Khang và tướng Đặng Trí. Trịnh Thị Khang là vợ của Đặng Chân, tướng
Đặng Trí là con trai của Đặng Chân có công giúp vua Đinh Tiên Hoàng dẹp loạn 12
sứ quân vào thế kỉ X. Lịch sử của ba vị Thành hoàng làng được ghi trong thần
tích và bia kí. Di tích còn 8 đạo sắc phong thời Nguyễn và một số câu đối, cuốn
thư ca ngợi công trạng của các vị Thành hoàng. Thần tích kể lại rằng:

 

Đền Từ Hạ

Tại trang Hạ Hoành, huyện Bình Hà, lộ Hải Dương có một nhà
tù trưởng giàu có, họ Đặng, tên Chí, vợ người bản trang, tên là Thị Sinh, sinh
được một cậu con trai, đặt tên là Chân. Đặng Chân là một người văn võ toàn tài.
Sau khi cha mẹ qua đời, Công hành lễ an táng tại bản trang.

Khi mãn tang, Công liền đi du chơi thiên hạ, đến chùa Mảnh gặp
nữ nương Trịnh Khang, là một nữ tu hào kiệt, văn tự tinh thông, quê ở trang
Vĩnh Toàn, phủ Khoái Châu, tỉnh Sơn Nam đang chọn người tài để kết duyên chồng
vợ.

Ngay đêm hôm đó, nương mộng thấy như cùng Chân Công chăn gối
và bà thụ thai, ngày tròn tháng đủ, bà sinh một cậu con trai khôi ngô tuấn tú.
Chân Công nhận làm cha và Khang nương làm mẹ cùng cung dưỡng câu bé trưởng thành.

Bấy giờ, loạn 12 sứ quân, Đinh Bộ Lĩnh xuất hịch cấp báo, cả
gia đình Đặng Chân đến xung quân. Chân công được phong là Đại tướng quân, lãnh
binh theo đường bộ, Đặng Trí cùng mẹ theo đường thủy. Khởi nghĩa thành công, cả gia đình được tặng phong chức vị
và cho về quê hương.

Nhận phong xong, ba người trở về hương quán, hai công hoá tại
đây, ngày 8/11 Khang nương cũng qua đời. Nhân dân làm biểu tâu lên vua, vua sai
sứ về hành lễ điếu tang và bao phong mỹ tự, tặng sắc và sai dân lập miếu phụng
thờ.

Triều đình khen tăng mỹ tự “Bản quốc Thành hoàng Yên Hạ hiển
ứng Đại vương”, “Đương cảnh Thành hoàng quan sát đại vương”. Tặng Thánh Mẫu “Bồ
Tát phật Túc Thanh công chúa”, phụng thờ tại chù bản xã.

Về sau được các triều đại tặng phong “Bản cảnh Thành hoàng
linh phù chi thân”. Tái gia tặng “Dực bảo trung hưng linh phù chi thần”. Nhân
dân địa phương thờ phụng tôn Chân công là Đức Thánh Cả, Đặng Trí là Thánh Tử,
Trịnh Thị Khang là Thánh Mẫu.

Theo văn bia, đền Từ Hạ xây dựng thời hậu Lê (thế kỷ XVII),
trùng tu vào các năm 1856, 1897 và 1918, kiến trúc chữ đinh gồm 5 gian tiền tế
và 3 gian hậu cung, kết cấu khung vì chất liệu gỗ lim chắc chắn. Tiền tế có nhiều
bức cốn theo đề tài long quần, hoa lá cách điệu.

Mặt trước hậu cung trang trí hai bức rồng chầu, cửa võng sơn
son thếp vàng chạm phượng, hoa hồng và phúc thọ tạo thêm không gian linh thiêng
– nơi đặt tượng thờ Đặng Chân, Trịnh Thị Khang và Đặng Trí.

Nhân dân bản trang tôn các vị là Thành hoàng làng và kiêng
tên huý, Đặng Chân được gọi là Đức Thánh Cả, Đặng Trí được gọi là Đức Thánh Tử
(con), Trịnh Thị Khang được gọi là Đức Thánh Mẫu (mẹ). Nhân dân còn lưu giữ được
8 đạo sắc phong thần của các vua triều Nguyễn, phong cho tam vị Thành hoàng. Sắc
phong vào các năm :

    + Đồng Khánh thứ
hai ( 1887)

    + Thành Thái nguyên
niên (1889)

    + Duy Tân tam niên
(1909) : 2 sắc.

    + Duy Tân thứ năm
(1911)

    + Khải Định thứ
chín (1924) : 2 sắc.

Tại di tích còn có cuốn thư sơn son thiếp vàng, làm năm Khải
Định thứ 7 (1922) ca ngợi công lao của các vị : “Bậc thần có công lao to lớn,
đánh dẹp 12 sứ quân, công đức lớn lao sánh ngang trời đất.

Hoá linh thiêng nơi miếu điện phù giúp dân lành. Dân chúng
lưu truyền tế tự, để Người hưởng tế lễ ngàn thu. Cung kính chúc Thánh cung muôn
tuổi. Dân khắp nơi thấm nhuần ân trạch lớn lao”.

Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, tại khu vực đền Từ Hạ còn
diễn ra nhiều sự kiện lịch sử quan trọng của tỉnh Hải Dương và các tỉnh cùng đồng
bằng Bắc Bộ. Đền ở xa khu dân cư, đường sông bao bọc 3 phía thuận lợi cho hoạt
động bí mật của( Tại di tích vẫn còn dấu vết khu hầm bí mật mà cửa ra bờ sông.

Tỉnh uỷ và Uỷ ban kháng chiến tỉnh Hải Dương đã họp bàn kế
hoạch với bộ đội chủ lực quyết định đánh bốt Xuân Ngo và Ô Mễ (Tứ Kì) tháng
11/1951, mở ra cục diện chiến thuật có lợi cho phong trào CM ở vùng đồng bằng Bắc
Bộ. Cùng với chiến dịch đường 5, các trận đánh trên đã góp phấn thắng lợi cho
chiến dịch đồng bằng của cả nước, phối hợp cho chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ
giành thắng lợi, thống nhất đất nước.

Đền Từ Hạ còn là nơi các đồng chí lãnh đạo tỉnh uỷ Hải Dương
chọn làm căn cứ sinh hoạt, hội họp, lãnh đạo nhân dân trong tỉnh đấu tranh chống
thực dân Pháp xâm lược.

Hàng năm, dân làng tổ chức 2 kì lễ hội vào ngày 14 tháng
giêng (âm lich) là ngày mất của Đức Thánh Phụ và Đức Thánh Tử; ngày 8 tháng 11
là ngày mất Đức Thánh Mộu. Lễ hội 14 tháng giêng là lễ hội lớn nhất trong năm.

Trong lễ hội có tục rước kiệu, tế thần và tổ chức văn nghệ,
diễn các tích chèo cổ và đánh cờ người. Đó là nghi lễ tưởng nhớ người có công với
dân với nước đồng thời là một sinh hoạt văn hoá tinh thần của nhân dân xã Thanh
Bính nói riêng và nhân dân các xã khác trong huyện Thanh Hà.

Lễ hội truyền thống tổ chức hằng năm vào hai kỳ 14 tháng
giêng tưởng niệm ngày mất của Đức Thánh Cả, Thánh Tử và mùng 8.11 tưởng niệm
ngày mất của Thánh Mẫu, có tục rước kiệu thành hoàng, tế thần và diễn các tích
chèo cổ, đánh cờ người.

Đình Đông Quan

Đình Đông Quan ở phường Tân Hưng (TP Hải Dương) thờ Trung Liệt
Đại vương, Viên Dương Đại vương và Thanh Độ Đại vương. Trong cuộc khởi nghĩa của
vua Đinh Bộ Lĩnh, tướng Trung Liệt giữ chức “Thống lĩnh Tiền quân quản sư thủy
bộ chư quân sự”, tướng Viên Dương giữ chức “Tham tán Mưu thần”, tướng Độ Công
giữ chức “Phó tướng Hậu quân”, chỉ huy ba đạo quân.

Thắng trận, nhà vua cấp cho 3 ông 30 gia thần, cho phép trở
về trang Hồng Liễu hưởng lộc và miễn sưu thuế cho nhân dân. 3 ông mất, nhà vua
vô cùng thương tiếc, sai đình thần đến hành lễ tế và sắc dân lập miếu phụng thờ.

Theo truyền ngôn, thủa sơ khai đình Đông Quan có quy mô nhỏ.
Đến năm Bính Thìn – Hoàng triều Khải Định (1916), đình được trùng tu lớn. Trải
qua hơn 100 năm, tuy được tu sửa nhiều lần nhưng đình vẫn giữ nguyên những yếu
tố gốc cổ với tổng thể kiến trúc có cổng, sân, đại bái và hậu cung.

Cùng với hệ thống vì kèo và các chi tiết mộc, đại bái còn
lưu giữ nhiều bức cốn chạm liên hoàn hai mặt, không chỉ có tác dụng chịu lực, đỡ
các đầu hoành mà còn là tác phẩm nghệ thuật giá trị với đề tài tứ linh (long,
ly, quy, phượng), tứ quí (tùng, trúc, cúc, mai), long ngư hý thuỷ, long quần,
thuyền bè sông nước gắn với những chùa, tháp cổ.

Lễ hội truyền thống đình Đông Quan tổ chức vào ngày 14 tháng
giêng âm lịch. Ngoài phần lễ, tế thánh, phần hội diễn ra trò chơi đấu vật, bắt
vịt, đi cầu kiều… tại sân và ao đình, thu hút đông đảo người dân và du khách thập
phương tham gia.

Đình Đỗ Lâm Hạ

Đình Đỗ Lâm Hạ, xã Phạm Kha (Thanh Miện) – nơi thờ phụng danh tướng
Lý Trí Thắng

Đình Đỗ Lâm Hạ ở xã Phạm Kha (Thanh Miện) thờ danh tướng Lý
Trí Thắng. Lịch sử của ông và gia đình ghi chép khá rõ trong thần tích do Nguyễn
Bính phụng soạn vào năm Hồng Phúc thứ 5 (1576): Thân phụ của Lý Trí Thắng họ
Lý, tên húy là Hùng, thân mẫu họ Trần, tên húy là Hồng. Năm 14 tuổi, Lý Trí Thắng
đã tinh thông võ nghệ, văn chương. Khi Nguyễn Bặc – tướng quân của vua Đinh Bộ
Lĩnh tiến quân đến phủ Hạ Hồng thì gặp Lý Trí Thắng. Biết ông có tài, Nguyễn Bặc
cùng ông về Hoa Lư ra mắt Đinh Bộ Lĩnh, được Đinh Bộ Lĩnh trọng dụng, phong chức
“Tả đạo binh nhung” kiêm “Tham tán mưu sự”.

Khởi nghĩa thắng lợi, do có công lớn, ông được giao nhậm chức
ở Hoan Châu. Khi mất, nhân dân tôn ông làm thành hoàng, lập đình phụng thờ.

Đình Đỗ Lâm Hạ xây dựng vào thời hậu Lê với quy mô lớn. Năm
Thành Thái 10 (1898) được trùng tu, năm Bảo Đại 14 (1939) tu sửa. Năm 2019,
đình tiếp tục được tôn tạo phần ngoại thất, sân vườn, khuôn viên di tích khang
trang. Công trình có kiến trúc kiểu tiền nhất hậu đinh gồm 5 gian đại bái, 5
gian trung từ và 4 gian hậu cung, chất liệu gỗ lim.

Lễ hội truyền thống của đình vào ngày 10 tháng giêng. Trong
lễ hội, phần lễ có tổ chức rước nước, rước kiệu long đình và thi lợn thờ.

Đình làng Đỗ Lâm Thượng, cũng như Đình làng Đỗ Lâm Hạ thờ Lý Trí Thắng, Tả đạo binh nhung kiêm Tham tán mưu sự, có công giúp Đinh Bộ Lĩnh đánh dẹp 12 sứ quân, được giao nhậm chức ở Hoan Châu, 3 năm sau được vời về triều phong chức Chưởng ấn nội các. Khi Lê Hoàn lên ngôi, Lý Trí Thắng lại tập hợp lực lượng hợp sức với Đinh Điền, Nguyễn Bặc chiến đấu để giữ ngôi báu của nhà Đinh.

Hàng năm, tại di tích đình Đỗ Hạ và đình Đỗ Thượng đều diễn ra hai kỳ lễ hội. Lễ hội kỷ niệm ngày sinh được tổ chức vào ngày mùng 10 tháng Giêng. Lễ hội kỷ niệm ngày mất được tổ chức vào ngày mùng 10 tháng 8. Trong hai kỳ lễ hội đó, lễ hội tháng Giêng thường là lễ hội lớn nhất trong năm. Dưới thời phong kiến, lễ hội tại di tích diễn ra từ ngày mùng 6 đến ngày 12 tháng Giêng, là lễ hội lớn nhất của cả vùng.

Đình Dậu Trì

Đình Dậu Trì ở xã Hồng Dụ (Ninh Giang) thờ danh tướng Trần
Minh Công, người có công phò tá vua Đinh Tiên Hoàng đánh dẹp loạn 12 sứ quân thế
kỷ thứ X.

Tương truyền, vào thời nhà Đinh, tại thôn Dậu có gia đình
sinh được một người con trai, cha mẹ đặt tên là Nhật Giảo. Khi trưởng thành Nhật
Giảo thường học chữ, thích đàn nhạc, tinh thông âm luật, binh thư, cung nỏ,
không chỗ nào không biết. Khi  26 tuổi nước
ta có loạn 12 sứ quân, ông cũng tụ binh cai quản bản quận, xưng là Trần Minh
Công.

Minh Công thi hành ân huệ rộng lớn, lấy lòng nhân đức để qui
phục lòng người… Đinh Bộ Lĩnh đến thăm bằng lòng chuẩn y, cho nhập vào đại
quân và sai Minh Công cầm quân diệt giặc. Minh Công phò nhà Đinh nhiều năm, có
nhiều công lao được nhà vua khen ngợi. Ông qua đời ở tuổi 71 nhằm ngày 12 tháng
5. Sau khi mất vua Đinh vô cùng thương tiếc, đã sai đình thần về làm lễ điếu.

Tương truyền về sau Minh Công có nhiều hiển ứng, âm phù với
triều Trần và được Trần Nhân Tông ban sắc là Mậu Ngọ Đại Vương (vì năm đó ông
hiển linh ứng giúp vua Trần vào năm Mậu Ngọ) và tặng một đạo sắc là “chí đức
tôn thần” uỷ thác cho Bộ Lễ đến thăm hỏi và lập đền để xuân thu phụng thờ,
tế lễ, ban tiền để xây dựng miếu… giao cho khu Dậu phụng thờ, tế lễ, tối tú,
tối linh, truyền cho muôn đời gìn giữ đình, miếu hương hoả.

Trước đây di tích có nhiều cổ vật quý, nhưng qua thời gian
và chiến tranh nhiều cổ vật đã bị mất mát, hư hỏng, nhất là hệ thống bia ký,
câu đối, đại tự, đồ tế khí. Tuy vậy đến nay đình Dậu Trì vẫn còn lưu giữ được một
số cổ vật có giá trị như:

1 cuốn thần tích soạn năm Hồng Đức thứ 5 (1474) do Văn Minh
đại học Nguyễn Bính phụng sao, cửu phẩm thư lại Nguyễn Đức Minh phụng viết.

Sắc phong 6 đạo, được phong vào các năm:

– 1 sắc phong vào ngày 10 tháng 11 năm Tự Đức 6 (1853).

– 1 sắc phong vào ngày 24 tháng 11 năm Tự Đức 33 (1880).

– 1 sắc phong vào ngày 01 tháng 7 năm Đồng Khánh thứ 2
(1887).

– 1 sắc phong vào ngày 
11 tháng 8 năm Duy Tân thứ 3 (1909).

– 2 sắc phong vào ngày 25 tháng 7 năm Khải Định thứ 9 (1924)

Ngoài ra còn một số đồ thờ mang đậm dấu ấn nghệ thuật Nguyễn
như: Ngai thờ, bộ bát bửu, long đình, sập thờ cùng một số bát hương và đồ tế tự
khác do nhân dân mới mua sắm.

Di tích khởi dựng vào năm Thành Thái – Kỷ Sửu (1889), trùng
tu vào năm 1906 và 1916, kiến trúc chữ đinh gồm 5 gian đại bái và 3 gian hậu
cung, chất liệu gỗ tứ thiết. Di tích có kiến trúc kiểu chữ Đinh (J) bao gồm 5
gian đại bái và 3 gian hậu cung.

Toà đại bái dài 12,55m, rộng 4,3m, gồm 6 vì kèo liên kết với
nhau. Tuy nhiên các vì kèo lại có kiến trúc không giống nhau. Hai vì kèo trung
tâm có  kiến trúc kiểu “con chồng
giá chiêng” truyền thống, hai vì gian bên cạnh có kiến trúc kẻ “chuyền
giá chiêng”, vì kèo này có hệ thống kẻ liền bẩy, kẻ đi qua đầu cột quân và
đầu cột cái đỡ câu đầu.

Trên câu đầu là hai trụ có con vành tạo thành giá chiêng
hoàn chỉnh. Hai vì kèo áp tường hồi lại có kết cấu kiểu “kẻ chuyền kèo cầu
trụ báng”. Đây là lối kiến trúc khá độc đáo trong nghệ thuật kiến trúc
đình làng Việt Nam đầu thế kỷ XX.

Toà hậu cung gồm 3 gian, dài 6,6m rộng 5,25m, do 4 vì kèo tạo
thành, các vì có kiến trúc kiểu “giá chiêng”. Riêng vì thứ 3 thì toàn
bộ phần trên câu đầu được tạo dáng bằng một bức chạm liền theo mô típ triện tàu
lá dắt độc đáo.

 Nhìn chung đình Dậu
Trì là một công trình kiến trúc đồng bộ, chắc chắn, được làm bằng chất liệu gỗ
lim còn tốt. Tại đây, tuy ít có những bức chạm nghệ thuật, song nghiên cứu kết
cấu kiến trúc của đình  giúp hiểu thêm về
sự sáng tạo trong kiến trúc đình làng của các nghệ nhân dân gian, góp phần bổ
sung vào nghiên cứu các công trình kiến trúc cổ, độc đáo của Hải Dương nói riêng
và Việt Nam nói chung.

Chính giữa hậu cung đặt ngai thờ danh tướng Trần Minh Công
cùng các đồ thờ tự khác như sập thờ, bát bửu, long đình… đều là những cổ vật
giá trị có niên đại vào thời Nguyễn.

Dưới thời phong kiến, đình Dậu Trì có nhiều kỳ lễ hội, tiêu
biểu nhất là hai kỳ: Lễ kỷ niệm ngày sinh 11 tháng 11 âm lịch và ngày mất 12
tháng 5 âm lịch của Mậu Ngọ Đại Vương. Tuy nhiên, trong một năm lễ hội lớn nhất
là lễ kỷ niệm ngày sinh diễn ra từ ngày 10 đến 13 tháng 11 âm lịch.

Ngày 10, lễ mở cửa đình, các bô lão và trai tráng trong làng
dọn dẹp chồng kiệu, bao sái đồ thờ, dọn dẹp đường làng ngõ xóm. Ngày 11 là ngày
chính hội, 4 giáp của thôn gồm Đoài Thượng, Đoài Hạ, giáp Nam, giáp Bắc từ sáng
sớm đã tập trung ra đình để rước thần từ đình ra miếu và ngược lại. Lễ rước diễn
ra trong một ngày và được tổ chức long trọng, trang nghiêm thu hút đông đảo mọi
tầng lớp nhân dân tham gia.

Trong những ngày lễ hội, ngoài rước, tế thần và tổ chức các
trò chơi dân gian như: cờ người, bịt mắt bắt dê, đi cầu thùm… còn diễn ra một
cuộc thi hết sức độc đáo đó là hội thi các mâm ngũ quả và thi lợn tế vào ngày
12.

Điều đặc biệt ở đây không phải là thi lợn to hay nhỏ mà quan
trọng là lợn được vệ sinh sạch sẽ như thế nào. Vì vậy, muốn giật được giải, đòi
hỏi mỗi giáp phải cẩn thận ngay từ khâu chăn nuôi, chăm sóc.

Lễ hội đình Dậu Trì không chỉ là dịp người dân nơi đây ôn lại
truyền thống, lịch sử của Thành hoàng làng, mà thông qua kỳ lễ hội họ muốn gửi
gắm nguyện vọng, ước mong được ấm no, hạnh phúc, hoà bình, cầu mong cho con người,
vật nuôi và cây trồng phát triển. Đó là ước nguyện “người yên vật thịnh,
mưa thuận gió hoà” – Một ước nguyện điển hình của cư dân nông nghiệp.

Lễ hội truyền thống của đình diễn ra từ ngày 11-12/11 âm lịch.
Ngoài rước, tế thần và các trò chơi dân gian cờ người, đi cầu thùm… trong lễ hội
còn diễn ra cuộc thi mâm ngũ quả, thu hút đông đảo người dân tham gia, hưởng ứng.

Với những giá trị đã được khẳng định cả về góc độ lịch sử  và kiến trúc nghệ thuật, di tích đình Dậu Trì
đã được UBND tỉnh Hải Dương ra Quyết định số 692/QĐ-UBND ngày 07/02/2005 xếp hạng
là di tích Lịch sử và kiến trúc nghệ thuật.   

Đền Phú Mỹ Xuân Hoa

Đền Phú Mỹ Xuân Hoa ở xã Bình Dân (Kim Thành) thờ danh tướng
Đặng Sĩ Nghị. Nghe chiếu truyền vua Đinh Bộ Lĩnh tuyển binh khởi nghĩa, Đặng Sĩ
Nghị lấy gia thần được 6 vạn người đến ứng tuyển. Vua Đinh Bộ Lĩnh thấy Nghị
công văn võ toàn tài, trí dũng hơn người liền phong làm “Thống lãnh đại tướng
quân”, sai dẫn quân tuần phong theo hướng đông nam. Khi đến trang Phú Nội, quận
Trà Hương thì gặp quân phiến loạn, bèn cùng sĩ tốt và nhân dân xây dựng đồn trại
để đối phó.

Thắng trận trở về, Nghị công được vua cho giữ chức Lễ bộ Tả
thị lang, sau đó cử làm Tổng trấn Nghệ An. Sau khi ông mất, nhà vua sắc phong
Phúc thần, ban chiếu trong thiên hạ, những nơi nào Nghị công thiết lập đồn lũy
lập đền, miếu phụng thờ.

Di tích khởi dựng từ khá sớm, trùng tu nhiều lần vào thời hậu
Lê và thời Nguyễn, kiến trúc kiểu chữ đinh gồm 3 gian tiền tế và 2 gian hậu
cung, xây bít đốc quai chảo, chất liệu gỗ lim, nội thất có nhiều bức chạm tứ
quý hóa long, nghê hý cầu nghệ thuật. Di tích có nhiều cổ vật quý, trong đó có
tượng thành hoàng, cuốn thư, câu đối, đại tự, bia thần tích, sắc phong cùng hệ
thống tháp gạch cổ.

Lễ hội truyền thống diễn ra từ ngày 14-16 tháng giêng âm lịch
hằng năm. Trong lễ hội có tục tế tam sinh và rước lên chùa Bùi lễ Phật cùng một
số trò chơi dân gian như vật, cờ người, đi cầu thùm.

 Quy mô mỗi di tích thờ
các nhân vật thời Đinh ở Hải Dương dù khác nhau nhưng đều có giá trị về lịch sử,
văn hóa, khoa học, nghệ thuật và được Nhà nước xếp hạng cấp quốc gia, cấp tỉnh.

Đặng Thu Thơm

Nguồn:

Ths Nguyễn Thy Ngà

Normal
0

false
false
false

EN-US
X-NONE
X-NONE

/* Style Definitions */
table.MsoNormalTable
{mso-style-name:”Table Normal”;
mso-tstyle-rowband-size:0;
mso-tstyle-colband-size:0;
mso-style-noshow:yes;
mso-style-priority:99;
mso-style-parent:””;
mso-padding-alt:0in 5.4pt 0in 5.4pt;
mso-para-margin-top:0in;
mso-para-margin-right:0in;
mso-para-margin-bottom:10.0pt;
mso-para-margin-left:0in;
line-height:115%;
mso-pagination:widow-orphan;
font-size:14.0pt;
font-family:”Times New Roman”,”serif”;}

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Website này sử dụng Akismet để hạn chế spam. Tìm hiểu bình luận của bạn được duyệt như thế nào.