Định Quốc công Nguyễn Bặc, danh tướng trung nghĩa triều đại Đinh Tiên Hoàng

Do lập nhiều công lớn, ông được vua Đinh sắc phong Định Quốc
Công, tương đương chức Tể tướng của các triều đại sau này. Đức ông là một trong
số những người tận trung với triều Đinh, đồng thời là bạn đồng hương, sinh và mất
cùng năm với Vua Đinh Tiên Hoàng.

 Tượng thờ phụng danh tướng Nguyễn Bặc

Nhân dân thờ phụng ông và tướng Đinh Điền là những biểu tượng
của tinh thần hào hiệp, trượng nghĩa và trung thành. Theo các gia phổ họ Nguyễn
và tài liệu Lược sử họ Nguyễn tại Việt Nam, ông được tôn là bậc tiền thủy tổ họ
Nguyễn chính thống ở Việt Nam.

Theo sách Nguyễn Phúc tộc thế phả, ông được xem là thủy tổ của
dòng họ Nguyễn Phúc sau này lập ra dòng Chúa Nguyễn ở miền Nam năm 1569 dưới thời
Nguyễn Hoàng và triều đại Nhà Nguyễn năm 1802 dưới thời Nguyễn Phúc Ánh. Ông được
Việt sử tân biên liệt vào danh sách “Giao Châu thất hùng”, tức 7 anh
hùng người Giao Châu gồm:  vua Đinh Bộ
Lĩnh, Đinh Liễn, Lê Hoàn, Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Phạm Hạp và Phạm Cự Lạng.

Theo Sự tích Định quốc công Nguyễn Bặc của các giáo sư Nguyễn
Đình Điền và Nguyễn Đình Chi thì Nguyễn Bặc là con cụ Nguyễn Thước, Nha tướng của
Dương Đình Nghệ, ông có người anh trai là Nguyễn Bồ và người em trai là Nguyễn
Phục.

Tương truyền Nguyễn Bặc thời thanh niên là người giỏi võ nghệ
và có sức khỏe phi thường. Ông từng dùng tay không bắt sống cọp đem bán cho các
hào phú. Tính tình ông thẳng thắn, bộc trực nhưng rất thương dân.

Theo sách Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nguyễn Bặc
là người động Hoa Lư, châu Đại Hoàng, Đại Cồ Việt (nay vẫn là động Hoa Lư thuộc
xã Gia Hưng – huyện Gia Viễn – tỉnh Ninh Bình).

Thuở nhỏ, đức ông cùng kết bạn với vua  vua Đinh Bộ Lĩnh, Đinh Điền, Trịnh Tú và Lưu
Cơ. Trong đó, mối quan hệ của bộ ba vua – thần tử  vua Đinh Bộ Lĩnh – Nguyễn Bặc – Đinh Điền có gốc
rễ keo sơn từ lúc “cờ lau tập trận” chứ không phải khi đã trưởng thành mới kết
nghĩa Đào Viên như bộ ba Lưu Bị – Quan Vân Trường – Trương Phi ở Trung Hoa thời
Tam Quốc.

Nếu như vua  vua Đinh
Bộ Lĩnh được sử sách đánh giá là tài năng sáng suốt hơn người, dũng cảm mưu lược
nhất đời, tướng Đinh Điền điềm tĩnh, thận trọng và thông thái thì tướng Nguyễn
Bặc là người thẳng thắn, bộc trực và hăng hái. Tính cách của Nguyễn Bặc mô tả
qua việc ông giết Đỗ Thích trả thù cho vua  vua Đinh Bộ Lĩnh và đánh dẹp các sứ quân Nguyễn
Siêu, Phạm Bạch Hổ và Kiều Công Hãn.

Công thần nhà Đinh

Thần phả ghi ông có 3 người anh em cả ruột thịt và kết nghĩa
là Nguyễn Bồ và Nguyễn Phục và Hoàng Định. Trước đó Hoàng Định vốn là người thuộc
Kiều Công Hãn sứ quân tại Phong Châu, sau vì 
Nguyễn Bặc kêu gọi mà bỏ Hãn theo về với  vua Đinh Bộ Lĩnh. Khi Nam Tấn Vương Ngô Xương
Văn tử trận năm 965, các sứ quân nổi dậy. Cả bốn anh em họ làm tướng đi theo
vua Đinh Bộ Lĩnh hùng cứ ở Hoa Lư. Tướng Đinh Điền, Trịnh Tú và Lưu Cơ cũng
tham gia vào lực lượng này.

Đóng góp trong công cuộc dẹp loạn 12 sứ quân, tướng Nguyễn Bặc
là người chiêu mộ nhiều võ tướng giỏi như Bạch Tượng, Bạch Địa, Đỗ Đài và 5 anh
em họ Phí ở Động Phí (Ứng Hòa, Hà Nội); Lê Khai, Nguyễn Tấn (Nam Định); Lý Trí
Thắng (Hải Dương); anh em Lý Phả, Lý Hoằng, Lý Quảng (Hải Phòng); anh em Nguyễn
Viết, Nguyễn Sùng, Nguyễn Thiện và anh em Lý Đài, Lý Trâu, Lý Quốc cùng với sứ
quân Phạm Bạch Hổ (Hưng Yên) để đưa họ gia nhập lực lượng của  vua Đinh Bộ Lĩnh ở Hoa Lư.

Theo thần phả, khi đánh dẹp sứ quân Nguyễn Siêu, Nguyễn Bồ
và Nguyễn Phục cùng 2 tướng khác tử trận.Vua  Đinh Bộ Lĩnh liền truyền Nguyễn Bặc làm tiên
phong, cùng với Hoàng Định, Đinh Điền và Lê Hoàn đem quân đánh báo thù, diệt được
Nguyễn Siêu năm 967.

Những dấu tích ở Côn Sơn, Đông Triều thuộc khu vực chiếm
đóng của sứ quân Phạm Bạch Hổ từng diễn ra nhiều trận đánh của tướng Nguyễn Bặc
với sứ quân này. Tên núi Hun Sơn gắn với sự kiện Nguyễn Bặc dùng kế hỏa công, lợi
dụng gió thổi đốt lửa hun khói vào doanh trại của Phạm Bạch Hổ, nhờ đó dễ dàng
vây bắt.

Ngoài trận đánh Nguyễn Siêu, tướng Nguyễn Bặc chỉ huy các trận
đánh buộc Phạm Bạch Hổ ở Đằng Châu (Hải Dương), Ngô Nhật Khánh ở Đường Lâm (Sơn
Tây) và Ngô Xương Xí ở Bình Kiều (Thanh Hoá) phải quy thuận. Trong trận đánh sứ
quân Đỗ Cảnh Thạc, tướng Nguyễn Bặc chỉ huy cánh quân đánh vào thành Trại Quyền
(Quốc Oai).

Nguyễn Bặc cư xử với  vua Đinh Bộ Lĩnh không khác Trương Phi đối với
Lưu Bị. Ông luôn cắp giáo đứng hầu mỗi khi  vua Đinh Bộ Lĩnh bàn việc quân, hay nếm trước
thức ăn để tránh cho Lĩnh khỏi bị đầu độc. Khi ra trận mạc ông luôn xông pha đi
đầu. Có lần  vua Đinh Bộ Lĩnh bị trúng
tên ngã ngựa, Bặc cõng vua trên lưng, leo lên núi đá dựng đứng để thoát vòng
vây.

Năm 968,  vua Đinh Bộ
Lĩnh lên ngôi Hoàng đế, lấy hiệu là Đinh Tiên Hoàng. Nguyễn Bặc được phong làm
Định Quốc Công, đứng đầu các công thần, quản lý việc nội chính. Đinh Điền được
phong làm ngoại giáp.

Tận trung với nhà Đinh

Năm 979, Đinh Tiên Hoàng và Nam Việt vương Đinh Liễn bị sát
hại. Quan Chi hậu nội nhân là Đỗ Thích bị nghi là thủ phạm hàng đầu, sợ hãi bỏ
trốn.

Theo Đại Việt sử ký toàn thư, ba ngày sau, Thích khát nước
khát thò tay ra hứng nước mưa uống, bị cung nữ phát hiện đi báo. Nguyễn Bặc lập
tức bắt giết ngay Đỗ Thích. Ông cùng các đại thần tôn phò con nhỏ của Đinh Tiên
Hoàng là Vệ Vương Đinh Toàn lên ngôi, tức là Đinh Phế Đế. Mẹ Phế Đế là Dương
Vân Nga trở thành thái hậu.

Tuy nhiên rất nhiều ý kiến của các nhà nghiên cứu sử gia mạng
hiện nay lại cho rằng Đỗ Thích là người bị oan cho là trực tiếp giết hại cha
con Nam Việt Vương và chủ mưu chính là Lê Hoàn và Dương hậu, mà Đỗ Thích chỉ là
quan chi hậu nên bị ép buộc nhưng chưa thực hiện được ý đồ nên là đồng phạm.

Theo Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nguyễn Bặc,
Đinh Điền làm phụ chính cho Phế Đế, nhưng lúc đó Dương thái hậu tư thông với Thập
đạo tướng quân Lê Hoàn, cho Lê Hoàn làm Phó vương, nắm quyền chỉ huy quân đội,
chuyên quyền, tự do ra vào cung cấm. Nguyễn Bặc lo lắng bàn với các tướng:

“Lê Hoàn sẽ bất lợi cho “nhụ tử”, chúng ta chịu
ơn dày của nước, nếu không tính tước đi, giữ cho xã tắc được yên thì còn mặt
mũi nào trông thấy Tiên đế ở suối vàng nữa?”.

Ông bèn cùng Đinh Điền, Phạm Hạp khởi binh, chia hai đường
thủy bộ cùng tiến đánh Lê Hoàn. Nguyễn Bặc và Đinh Điền kéo quân từ châu Ái
(nay thuộc Thanh Hoá), định kéo thẳng đến kinh đô để giết Lê Hoàn. Dương thái hậu
nghe tin, bảo Lê Hoàn:

“Bọn Bặc nổi loạn, quan gia hãy còn thơ ấu, cáng đáng
sao nổi giữa lúc quốc gia lắm nạn này! Ông nên tính đi”.

Thập đạo tướng quân Lê Hoàn nói:

“Tôi đây làm phó vương, quyền giữ việc nước, dù sống chết
cũng xin gánh lấy trách nhiệm”.

Tướng Lê Hoàn liền sắp xếp quân đội, đánh nhau với Nguyễn Bặc,
Đinh Điền ở Ái Châu. Danh tướng Lê Hoàn vốn là tướng giỏi dùng binh, tướng Nguyễn Bặc và Đinh Điền
không chống nổi, lại đem quân thủy ra đánh. Lê Hoàn theo chiều gió, phóng lửa đốt
cả thuyền chiến. Đinh Điền tử trận, còn Nguyễn Bặc bị bắt, đưa về kinh
đô. Trước mặt Nguyễn Bặc, Thập đạo tướng quân Lê Hoàn kể tội ông:

“Đấng Tiên đế mắc nạn, thần và người đều căm giận,
ngươi lại nhân lúc tang tóc rối ren, đứng đầu làm giặc! Đạo tôi con đâu có như
thế?”.

Rồi vua Lê Đại Hành chém ông. Năm đó ông 55 tuổi, cùng sinh
một năm và chết 1 năm với Đinh Tiên Hoàng.

Nguyễn Bặc, Đinh Điền đã chết rồi, quân của Phạm Hạp mất
tinh thần, chạy lên hương Cát Lợi ở Bắc Giang. Vua Lê Hoàn đem quân đuổi theo,
bắt đưa về kinh đô, giết chết.

Các đạo quân chống đối bị tiêu diệt, Lê Hoàn được sự hỗ trợ
của Dương thái hậu và tướng quân Phạm Cự Lạng, phế Đinh Toàn làm Vệ vương như
cũ, giành ngai vàng, hiệu Lê Đại Hành, lập ra nhà Tiền Lê.

Ngày nay ở Ninh Bình còn rất nhiều di tích thờ ông và Đinh
Điền. Theo các nhà nghiên cứu sử học, số nơi thờ các trung thần nhà Đinh nhiều
hơn số đền thờ Lê Hoàn và Dương hậu phản ánh tình cảm của dân chúng đối với các
ông.

Khởi tổ dòng họ Nguyễn

Nhiều ý kiến từ các chi – phái thuộc hậu duệ của Nguyễn Bặc
cho rằng ông chính là Đức Thái thủy tổ của dòng họ Nguyễn Đại Tông, theo đó
Nguyễn Bặc là con trai Nguyễn Thước, một gia tướng của Dương Đình Nghệ.

Cũng theo luồng ý kiến này, dòng họ có con cháu là Nguyễn
Trãi và các chúa Nguyễn & vua Nguyễn sau này. Theo gia phả họ Nguyễn Đại
Tông, con cháu của Nguyễn Bặc, con Nguyễn Bặc là Nguyễn Đê di cư vào làng Gia
Miêu, huyện Tống Sơn, Thanh Hóa và là tổ tiên của các chúa Nguyễn.

Đền thờ họ Nguyễn Đại Tông Khởi Nguyên Đường ở Gia Phương
(Gia Viễn, Ninh Bình) có đôi câu đối đánh dấu việc thiên cư của dòng tộc, nói
lên sự nối tiếp vẻ vang của dòng họ Nguyễn và đề cao ngài Nguyễn Bặc:

“Duệ xuất Gia Miêu vương tích hiển

Khánh lưu Đại Hữu tướng môn quang”

Tạm dịch:

Cửa tướng phúc dày làng Đại Hữu

Dòng Vương nối ở đất Gia Miêu.

Hiện nay ở Việt Nam, Ban liên lạc Hội đồng dòng tộc Nguyễn Bặc
đã được thành lập. Chủ tịch danh dự của Hội đồng dòng tộc Nguyễn Bặc toàn quốc
là ông Nguyễn Huy Hiệu, thượng tướng, Viện sĩ, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng,
Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Nhận định

Trong Đại Việt sử ký toàn thư, Ngô Sĩ Liên nhận định về ông
như sau:

Chu Công là người vương thất rất thân, giúp vua nhỏ tuổi còn
không tránh khỏi những lời gièm pha phao truyền. Lê Hoàn là đại thần khác họ, nắm
giữ binh quyền, làm công việc như Chu Công, thường tình còn ngờ vực, huống là
Nguyễn Bặc ở chức thủ tướng và Đinh Điền là đại thần cùng họ hay sao? Bọn họ khởi
binh không phải làm loạn, mà là một lòng phù tá nhà Đinh, vì giết Hoàn không được
mà phải chết, ấy là chết đúng chỗ.

Nay xem lời Đại Hành kể tội Nguyễn Bặc tựa như vạch tội
mình. Khi Bặc chết, ắt phải có nói một lời để bày tỏ chính nghĩa, nhưng không
thấy sử chép, thế là bỏ sót.

Câu đối ở đình Ba Dân, huyện Thanh Trì viết về Nguyễn Bặc:

Chính thống phù Đinh khai đế Việt – Uy danh bình sứ lẫm Nam
thiên. (Chính thống phù nhà Đinh mở ra Hoàng Đế Việt; Tiếng vang dẹp sứ quân
còn lẫm liệt trời Nam)

Những địa điểm thờ phụng

Thống kê của tỉnh Hà Nam Ninh cũ cho biết có tới 134 nơi thờ
và phối thờ hai vị công thần Nguyễn Bặc, Đinh Điền. Đền vua Đinh ở cố đô Hoa
Lư; ở xã Gia Phương; ở Ba Dân (Kim Bảng); đền vua Đinh ở Ý Yên; đền Tứ Trụ ở
Tràng An… nơi nào cũng thờ Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Các lễ hội như cờ lau tập trận,
hội đền vua Đinh… đều diễn hình ảnh vua Đinh, Đinh Điền, Nguyễn Bặc, xem như những
người hùng tiêu biểu cho tinh thần thượng võ dân tộc.

Nhiều nơi thờ các vị thần khác mà vẫn lưu lại sự tích, có
khi thờ cả Đinh Điền, Nguyễn Bặc gắn bó với nhau, được dân địa phương sùng kính
(như các đền miếu ở huyện Yên Khánh, Ninh Bình, chùa Long Hoa ở xã Liêm Cần,
huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam, đền chùa ở bến Vạc Ninh Bình, đình Động Phi ở
huyện Ứng Hòa Hà Nội…). Chứng tỏ, hai vị sống thân thiết, chết lại không xa rời,
trở thành hình ảnh tâm linh hòa hợp giữa lòng ngưỡng mộ của nhân dân.

 

Lăng mộ danh tướng Nguyễn Bặc ở thôn Vĩnh Ninh, làng Đại Hữu, Gia Viễn,
Ninh Bình.

Lăng Nguyễn Bặc táng ở thôn Vĩnh Ninh, làng Đại Hữu (Gia Viễn,
Ninh Bình). Lăng được trùng tu lần mới nhất vào năm Kỷ Tỵ (1989). Về đền thờ,
ông được thờ ở nhiều nơi thuộc Ninh Bình, Hà Nội, Thái Bình, Nam Định:

Từ đường Nguyễn Tộc tại thôn Vĩnh Ninh (Gia Viễn, Ninh Bình)
là nơi thờ Nguyễn Bặc và được xem là nơi khởi thủy dòng họ Nguyễn.

Đình Áng Ngũ, đình Ngô Khê Hạ, đình Ngô Khê Thượng, đình
Thanh Khê Hạ, đình Thanh Khê Thượng thuộc xã Ninh Hòa, huyện Hoa Lư nằm sát
kinh đô Hoa Lư thờ Nguyễn Bặc với thần tích cho biết ông từng trấn giữ ở đây.Năm
Canh thân (1980) chi họ Nguyễn Đình tước tượng ngài về thờ ở từ đường của chi họ
(cùng thôn Ngô Hạ).

Đền Nột Lấm xã Ninh Xuân thờ “Đinh triều tả giám sát
hay “Hành Khiển Quang Lộc đại vương” dịch ra là Nguyễn Bặc

Đền Hiềm ở phường Phúc Thành, Ninh Bình là nơi thờ ông với
thần tích ghi lại những hiềm khích với Lê Hoàn.

Di tích chùa Đẩu Long, phường Tân Thành, thành phố Ninh
Bình, Ninh Bình cùng 6 vị thần khác.

Tại miếu Đông Thương xã Khánh An huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh
Bình, ông được phối thờ cùng Đinh Điền.

Đình Ba Dân ở làng Cổ Điển thuộc xã Tứ Hiệp, huyện Thanh
Trì, Hà Nội là đình chung của 3 làng: Cương Ngô, Cổ Diễn, Đồng Trì thờ chung
các ông Nguyễn Bặc, Nguyễn Bồ và Nguyễn Phục.

Đình làng Văn Điển thuộc xã Tứ Hiệp, huyện Thanh Trì, Hà Nội

Đình Mai Nội, xã Mai Đình, Sóc Sơn, Hà Nội là nơi thờ Nguyễn
Bặc với biệt danh Quang Minh

Đền thờ Định Quốc Công Nguyễn Bặc tại làng Phú Cốc, xã Thanh
Lợi, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định

Miếu Lịch Đại Đế vương tại kinh thành Phú Xuân (Huế) vua
Minh Mạng cho xây để thờ các vị vua và các danh tướng qua các triều đại trong
đó có Nguyễn Bặc.

Đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng ở xã Trường Yên (Hoa Lư, Ninh
Bình) dựng từ thế kỷ XI. Đến có 3 tòa: tòa ngoài là bái đường, tòa giữa gọi là
Thiên Hương thờ tứ trụ triều đình của nhà Đinh: Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Trịnh
Tú, Lưu Cơ. Toà trong cùng là chính cung thờ Đinh Tiên Hoàng, Đinh Liễn, Đinh
Toàn và Đinh Hạng Lang.

Đền thờ  vua Đinh Bộ
Lĩnh thôn Vân Hà, làng Đại Hữu (Gia Viễn, Ninh Bình) thờ 3 vị anh hùng đào viên
kết nghĩa là  vua Đinh Bộ Lĩnh, Nguyễn Bặc
và Đinh Điền.

Hiện tại trung tâm thành phố Ninh Bình đang xây dựng khu Quảng
trường – tượng đài Đinh Tiên Hoàng đế với 4 góc có tượng 4 vị quan đại thần
Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Trịnh Tú, Lưu Cơ cao 5m, có lính canh và ngựa bằng
đá[9].

Được vinh danh tên đường

Tên tuổi của Nguyễn Bặc được đặt cho các đường phố ở nhiều đô
thị như: thành phố Kon Tum, Tam Điệp, thành phố Hồ Chí Minh, Nha Trang, thành
phố Ninh Bình, thành phố Thanh Hóa, Hải Phòng, Hà Nội…

Hiện nay ở Việt Nam, Ban liên lạc Hội đồng dòng tộc Nguyễn Bặc
đã được thành lập. Chủ tịch danh dự của Hội đồng dòng tộc Nguyễn Bặc toàn quốc
là ông Nguyễn Huy Hiệu, thượng tướng, Viện sĩ, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng,
Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Nguồn: ImterNet

Ths Nguyễn Thy Ngà

Normal
0

false
false
false

EN-US
X-NONE
X-NONE

/* Style Definitions */
table.MsoNormalTable
{mso-style-name:”Table Normal”;
mso-tstyle-rowband-size:0;
mso-tstyle-colband-size:0;
mso-style-noshow:yes;
mso-style-priority:99;
mso-style-parent:””;
mso-padding-alt:0in 5.4pt 0in 5.4pt;
mso-para-margin-top:0in;
mso-para-margin-right:0in;
mso-para-margin-bottom:10.0pt;
mso-para-margin-left:0in;
line-height:115%;
mso-pagination:widow-orphan;
font-size:14.0pt;
font-family:”Times New Roman”,”serif”;}

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Website này sử dụng Akismet để hạn chế spam. Tìm hiểu bình luận của bạn được duyệt như thế nào.